Sunday, November 17, 2013

Hội VAF Cải Táng 81 Hài Cốt Quân Nhân Tử Thủ Tại Quân Trường Quang Trung



Kính xin bà con trong nước, hải ngoại và quý vị trên diễn đàn internet tiếp tay cùng Gia Đình Tử Sĩ VNCH(GDST) xin qúy vị chuyển tin này tới mọi người quen biết để cùng GDTS tìm kiếm người thân của các vị Tử Sĩ này, để đón nhận tro cốt của các vị về với gia đình trong hương khói. 

Trường ĐH Giao Thông vận Tải cơ sở Q12 số 70 khu phố 3 đường Tô Ký Q12 đang xây dựng trong khuôn viên nhà trường thì phát hiện hài cốt các Tử Sĩ VNCH từ ngày 13/3 Âm lịch nhằm ngày 15/4/2011cho tới ngày 12/5/2011 là được 81 bộ: Hiện nay chỉ có 27 bộ có dính theo thẻ bài, toàn bộ nhà trường đã đem thiêu ở Dĩ An Bình Dương. 5 Bộ hài cốt có kèm theo thẻ bài ngày mai mới đưa về chùa.

 
GDTS chúng tội ghi lại tên của 35 Tử Sĩ với thẻ bài do đại diện của VAF ghi nhận và chụp ảnh. Tin tức này đã được báo chí đưa lên mạng nhưng không đầy đủ thông tin. Quý vị có thể truy cập từ trang web: http://www8.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=221270&CatId=23

Item No.
Họ Và Tên Tử Sĩ VNCH
Số Quân
Nhóm Máu
Ngày Nhập Ngũ
Quê Quán
1
Cao Văn Tình
59135886
Không đọc được


2
Trần Văn Sang
70126078
A


3
Nguyẽn Văn Quới




4
Nguyễn Văn Chúc
202048
Không đọc được
14/01/1960

5
Trần Đình Đăng



Bình Định
6
Phạm Văn Thắng
69/123640
Không đọc được


7
Ngô Văn Đức
73/105119
O


8
Lê Thành Công
56/866498
O


9
Đào Xuân Sinh
63-125-670
Không đọc được


10
Nguyễn Tăng Đào
67/812-101
Không đọc được


11
Bùi Văn Quang
64/000-426
Không đọc được


12
Huỳnh Văn Khoẻ
417-416
Không đọc được


13
(không đọc được họ) Trung
N07.304.146
B RH +


14
Kiều Gia Long
47/77/66/22
O RH+


15
Nguyễn Văn Hai
64/000*367
Không đọc được


16
Văn Lam
Vì thẽ bài bị cháy xém và cong lại, họ chỉ đọc được LA (có thể là họLâm)
67/903.967
B +


17
Thẽ bài của vị Tử Sĩ VNCH bị cháy đen 
và cong lại, nên không được họ tên,
số quân và loại máu




18
Lê Văn Mạnh
191-953
Không đọc được


19
Lâm Văn Hổ
70-105-973
Không đọc được


20
Trang Văn Quân
53-513-812
O +


21
Trần Văn Ban (hoặc Hân)
Thẽ bài của vì nầy bị cong làm 2 lằn
74/103 (hoặc 8). 646
O +


22
Đỗ Văn Dũng
74004811
B


23
Trần Văn Thắm
75/002258
A +


24
Lê Văn Trai
54/765.897
A +


25
Nguyễn Đình Hiến
907 . 381
Không đọc được
18-8-64
Bình Định
26
Phạm Đình ( bị mất tên)
Thẽ bài của vị Tử Sĩ nầy bị mục nát
908 (không đọc được số kế tiếp)
Không đọc được
20-8-(61 hoặc 71)
Bình Định
27
Nguyễn Văn Cắt
67A806 * 702
Không có ghi
loại máu


28
Trần Hữu Duyên
67A170 * 218



29
Bùi Hoàng Sâm
69001-249
Không đọc được


30
Phạm Văn Mười
167-487



31
Lê Xuân Quang
69/133 . 781
B +


32
Vũ Văn Bảo
114-297



33
Nguyễn Văn Hưng
72/121:374
B +


34
Nguyễn Văn Tuân (hoặc Tuấn)
53/639 . 949
B +


35
Nguyễn Văn Má
75/127532
O




 
Luật sư và nhân viên của VAF và GDTS đã ghi thêm được 36 thẽ bài và chụp ảnh từng tấm thẻ bài còn dính trên hài cốt của Tử Sĩ VNCH. Chúng tôi đã làm thủ tục để thay mặt thân nhân tiếp nhận 81 bộ hài cốt của các vị, đã hoả thiêu và thỉnh tro cốt của 81 vị Tử Sĩ tới chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp, Sài Gòn, Việt Nam.

1.   
  Tro cốt Tử Sĩ Cao Văn Tình

2.   
  Tro cốt Tử Sĩ Trần Văn Sang

3.   
  Tro cốt Tử Sĩ Nguyễn Văn Quới

4.   
  Quang cảnh cúng vái và tụng kinh cầu siêu cho các vị Tử Sĩ
  VAF cùng với nhân viên trường ĐH GTVT và nhân viên nhà
  thầu xây dựng cùng lo cho các vị Tử Sĩ

5.   
  
6.   
  VAF cùng với mọi người đang tụng kinh cầu siêu
  Cho các vị Tử Sĩ.
7.   

8.   

9.   

10.      

11.    

12.    

13.    

     14. 

     15. 

     16. 

     17. 

     18. 

     19. 

     20. 

     21. 

     22. 

     23. 

     24. 

     25. 

     26. 
         Thẻ bài của Tử Sĩ Nguyễn Đình Hiến bị mục và tách làm đôi

     27. 
         Phạm Đình ( bị mất tên) Thẻ bài của vị Tử Sĩ này bị mục nát
     28. 

     29. 

     30. 

     31. 

     32. 

     33. 

     34. 

     35. 

     36. 
     37. 

     Các ông nhân tại công trường trang trọng tắm rửa hài cốt các vị Tử Sĩ VNCH rồi xếp vào những chiếc hộp màu đỏ chờ ngày giờ để hoả thiêu hài cốt các Tử Sĩ.  Sau đó VAF đã cùng đại diện anh em công nhân, nhân viên nhà trường và đại diện nhà thầu xây dựng thỉnh tro cốt các vị Tử Sĩ đến chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp, để làm lể cúng vái và tụng kinh cầu siêu cho 81 vị Tử Sĩ.

     Vietnamese American Foundation (VAF) và Gia Đình Tử Sĩ VNCH (GDTS)trân thành cám ơn các anh em công nhân, nhà trường, nhà thầu xây dựng đã cùng VAF trân trọng lo chu tất việc cải táng hài cốt của Tử Sĩ VNCH.  Chúng tôi cám ơn chính quyền địa phương đã tạo điều kiện và giúp chúng tôi xúc tiên thủ tục dễ dàng để đại diện của VAF và GDTS tại Việt Nam đón nhận 81 hài cốt của Tử Sĩ VNCH Vị Quốc Vong Thân.

VAF và GDTS chúng tôi trân thành cám ơn quý vị đã cùng chúng tôi phổ biến rộng rãi thông tin nầy khắp nơi.  VAF và GDTS rất mong tìm được người thân của 81 hài cốt của Tử Sĩ VNCH.  Để các vị sớm được về với gia đình.  Mọi tin tức xin liên lạc Gia Đình Tủ Sĩ VNCH qua địa chỉ email như sau:

Gia Đình Tử Sĩ VNCH (GDTS):  gdts.info@gmail.com

Hoặc liên lạc với chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp, Sài Gòn, Việt Nam.

Trân thành cám ơn quý vi đã gíup đỡ.  Kính chúc quý vị và gia đình luôn dồi dào sức khoẻ.

 
Kính thư,

 
GDTS,

 

The member of The Returning Casualty Group

Tuesday, November 12, 2013

Thân Gửi Anh Người Lính Năm Xưa

Thư Gởi Người Lính Năm Xưa
(Bài viết nầy có đợc từ link bên dưới)

(03/15/2004) 
Người viết: DUY NHÂN
Bài số: 493-1030-vb5110304
Duy Nhân là một tác giả đã được trao tặng giải thưởng Viết Về Nước Mỹ năm trước và vẫn liên tiếp góp thêm những bài mới. ghi lại nhiều kinh nghiệm và suy nghĩ trên đất Mỹ của một cưu sĩ quan, cựu tù nhân Cộng sản. Tác giả hiện sống tại Chicago và sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Bây giờ là mùa đông. Ở Chicago nầy mùa đông rất lạnh. Mỗi khi trờI lạnh như thế nầy thì hắn thấy nhức ở đùi bên phải, nơi vẫn còn ghim những mảnh đạn trong một lần chạm súng với địch ở miền Tây năm 1972.
Vết thương chiến tranh của 32 năm trước tuy có nhức, nhưng vẫn không bằng cái nhức nhối trong hồn mà hắn cảm thấy mấy ngày nay khi đọc báo biết được cộng đồng ngườI Việt khắp nơi đồng loạt phản ứng chống lại một ông tướng mới về Việt Nam ca tụng chế độ Cộng sản, hô hào hòa hợp, hòa giải, tìm cơ hội làm ăn vớI Cộng sản.
Nghĩ về ông tứơng, hắn lại nhớ đến một thương binh VNCH cụt một chân và hư một mắt tại chiến trừơng An lộc năm 1972, vừa mới gửi từ Việt nam cho hắn một lá thư nhờ chuyển tới các cấp chỉ huy ngày xưa.Thư đựơc phổ biến trên tuần báo Trách nhiệm số 107. Thư nầy có ý hờn trách những sĩ quan QL.VNCH mặc áo gấm về làng, ngồi nhà hàng, ở khách sạn năm sao, tung tiền ra để chứng tỏ là Việt kiều yêu nứơc, đồng thời tính chuyện hòa hợp, hòa giải vớI Cộng sản. Thư có đoạn viết “những ngừơi lính QL.VNCH đang lê lết ngòai cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống, vui chơi. Hận thù lớn nhất của ngừơi lính là sự bộI bạc.” Thư có nhắc đến những tổ chức, hội đoàn của cựu quân nhân lập ra thì nhiều mà không thống nhất mục tiêu tranh đấu, phương pháp thực hiện, nhiều lúc còn đối đầu, chống phá lẫn nhau. Thư cũng nhắc đến những sự kiện bát nháo trên xứ ngừơi. Đó là những tổ chức kháng chiến ma, những mặt trận dỏm, những chánh phủ tự phong v ...v. Thư viết tiếp, xin cám ơn các anh về những đồng đô la mà các anh đã gửI về cho chúng tôi trong những chương trình giúp đỡ thương phế binh QL.VNCH. Những đồng tiền đó, dầu có giúp cho chúng tôi trong một thờI gian ngắn, dầu có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần, nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗI nhục mất nước. Đọan kết thư viết : Chúng tôi là những ngừơi lính năm xưa của các anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các anh, tin tưởng vào ngày về rửa nhục để mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm ngừơi, chấm dứt đêm trừơng u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc ngót 29 năm dài.
Một ông tứơng và một ngườI lính! Hai hình ảnh hoàn tòan trái ngược. Ông tứơng thì ngừơi ta đã nhắc tới qúa nhiều, còn ngườI lính thì không ai nhắc đến. Hắn không thể nào chịu được. Cuối cùng thì hắn quyết định viết cho ngừơi lính năm xưa:
Thân gửi Anh,
người lính năm xưa,
Tôi là một sĩ quan QL.VNCH, từng là cấp chỉ huy của các anh đây. Tôi thấy thật là lúng túng, khó khăn, không biết phải mở đầu lá thư nầy như thế nào cho suông sẻ, nhất là cách xưng hô.
Thật là ngựơng ngùng khi phải nghe lại những danh từ Hải Long, Hắc Báo, Đại Bàng, Bắc Đẩu mà ngày xưa các anh đã gọi chúng tôi một cách thân thương và kính trọng của môt binh sĩ đối với cấp chỉ huy của mình. Danh từ Sĩ quan tôi dùng là muốn xác định trách nhiệm của chúng tôi đối vớI các anh, ngày trứơc cũng như bây giờ, vậy thôi. Cấp bực và chức vụ nào có nghĩa lý gì trong lúc nầy, khi mà tất cả chúng ta đều là người bại trận. Vậy thì, tôi đề nghị, mình hãy nói chuyện vớI nhau như những ngừơi lính đã từng sát cánh, chiến đãu bên nhau trong môt trận tuyến, cùng chung mục đích, lý tửơng là chống Cộng sản xâm lược. Còn những ai cho rằng cuộc chiến vừa qua là bẩn thỉu thì chắc là lý tửơng của họ khác chúng ta.
Đã 29 năm qua, nhưng tôi có cảm tửơng như mớI ngày nào đây thôi. Cái ngày chia tay có rựơu nồng chan hòa nứơc mắt, ngày các anh tiển chúng tôi ra đi định cư tại nứơc Mỹ nầy, để chúng tôi có điều kiện thuận lợI trong cuộc chiến đãu mớI và thầm mong ngày về vinh quang.
Trong thư, anh bày tỏ mối lo sợ là chúng tôi đã quên các anh, quên những chiến sĩ của mình đã nằm xuống vĩnh viển trên đất mẹ thiêng liêng, quên những đồng độI còn sống sót trong tấm thân tật nguyền, đau khổ, lây lất nơi đầu đừơng, xó chợ, đi vá xe đạp, đi bán vé số, thậm chí, đi ăn xin, kiếm sống qua ngày. Không! Chúng tôi không bao giờ quên các anh. Ngoài các anh, chúng tôi còn nhớ những ngừơi bạn của mình đã ngả gục ở các trại tập trung trong Nam, ngòai Bắc, hoặc đã bỏ mình nơi rừng sâu hay đã nằm im dứơi lòng đại dương khi cố gắng vượt biên, hoăc còn đang khoắc khoải vớI kếp sống lưu đày ở đâu đó nơi xứ lạ, quê ngừơi.
Hỡi anh, ngừơi lính năm xưa!
Làm sao mà chúng tôi quên được hình ảnh của các anh trên khắp 4 vùng chiến thuật, trên mọI nẻo đường đất nứơc. Lúc thì Năm Căn, Cà Mau, Kiến phong, Kiến từơng, Rạch gía...
Ở đó, từ sáng tinh mơ cho đến chiều tối không có lúc nào mà bộ đồ trận anh mặc trên ngừơi đựơc khô ráo. Hết hành quân truy lùng, đến hành quân giải dây, tiếp tế. Hết lộI ruộng, anh lại băng rừng. Nào rừng đước, rừng tràm, rừng lá...
Có lúc anh hợp đồng chiến đãu, có lúc anh chiến đãu một mình trong rừng cả tháng không thấy ánh mặt trời. Giả từ miền Tây, anh lại ra Trung, nơi địa đầu giớI tuyến, nơi hoàn toàn xa lạ, để rồi bỏ thây nơi đó để cho nơi nầy thành ra nỗi tiếng, nào Cổ thành Quảng trị, Tống lê Chân, Bình Long, An Lộc, Khe Sanh, Hạ Lào...
Có lúc các anh phải sống ở địa đạo, chịu đựng mỗI ngày từ 8000 đến 10000 qủa đạn pháo. Nào ai có biết" Các anh uống nước rễ cây, ăn hoa lá, côn trùng để cầm cự với địch là chuyện bình thường. Trong khi đó, có một số ngừơi thành phố vẫn sống trong nhà cao, cửa rộng, nệm ấm, chăn êm, ném tiền qua cửa sổ, ăn chơi, trụy lạc, thâu đêm suốt sáng nơi vũ trường, phòng trà, tửu quán. Họ không hề biết chiến tranh là gì, làm như chiến tranh là chuyện riêng của các anh, không liên quan gì tới họ. Đã thế, lâu lâu họ còn bày trò biểu tình để đòi 'quyền sống' xuống đừơng đòi Tự do Dân chủ, tự do Tôn giáo... Nếu những ngừơi nầy còn có lương tâm để phản tỉnh, chắc họ thương các anh lắm. Nhưng rất tiếc, điều đó đã quá muộn màng.
Trong hơn 20 năm dài, kể từ lúc ngừơi anh em phương Bắc theo chủ nghĩa ngoại lai cầm vũ khí Nga, Tàu và khối Cộng trao cho để xâm nhập, phát động chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng, hầu nhuộm đỏ miền Nam, thì các anh chưa hề có một giấc ngủ bình yên. Vì có ngày nào mà bom không nổ, đạn không rơi trên lảnh thổ miền Nam" Các anh cũng là những ngừơi không có mùa Xuân. Nhiệm vụ các anh là phải ôm súng, đứng gác nơi tiền đồn để canh giử mùa Xuân cho đồng bào, cho mọI ngườI, mọI nhà. Mùa Xuân chỉ đế vớI các anh bằng cánh mai rừng nở muộn. Chỉ có mùa Xuân năm 1968 vì qúa tin vào thỏa hiệp hưu chiến của phía bên kia mà các anh buông lơi tay sung. LợI dụng dịp đó, giặc bất ngờ, đồng loạt tấn công vào các thành phố, thị xã miền Nam, gây tang thương, chết chóc cho biết bao dân lành vô tội. Các anh phải chịu nhiều hy sinh, mất mát và phải vất vả lắm mớI giành lại thế chủ động. đẩy lùi địch ra khỏi các đô thị miền Nam, cắm lại ngọn cờ chánh nghĩa quốc gia trên thành phố Huế sau 25 ngày đêm bị địch chiếm và gây ta tộI ác trờI không dung ,đất không tha, khiến cho vạn vật phải ngậm ngùi, qũy thần phải rơi lệ : 5000 quân dân cán chính bị hành hình và vùi thây ở những hố chôn tập thể. 





Thật ra, các anh đâu chỉ biết có mỗi một việc là cầm súng. Có nhiều lúc các anh còn phải tay súng tay cày, hoặc vai mang súng, tay cầm liềm gặt lúa phụ giúp ngừơi nông dân trong việc đồng áng. Lúc thì các anh khám bệnh, phát thuốc cho đồng bào, lúc làm thày giáo dạy học. Tất cả đã tạo nên một hình ảnh rất đẹp trong lòng ngừơi dân, khiến cho, anh đến dân mừng, anh đi dân nhớ. Những lúc giặc tràn về thôm xóm thì ngừơi dân bỏ chạy, tìm về phía các anh để được bảo vệ chở che, thắm đượm tình quân dân cá nước.
Thế rồi mùa hè đỏ lửa lại đến. Tháng 5 năm1972 giặc chiếm Quảng Trị. Lần nầy thì cả dân và quân cùng chạy. Quốc lộ 1 Nam Quảng trị đã biến thành đại lộ kinh hoàng, xa lộ tử thần. Hàng ngàn trái pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly như mưa rơi rãi trên đầu ngừơi dân. Hàng hàng lớp lớp dân chúng bị đốn ngã như thân chuối trong cơn bão lửa. Trong cơn hoảng loạn, các anh vẫn bình tỉnh, tay bồng em bé, tay dắc cụ gìa chạy trong mưa pháo, dùng chính thân xác của mình che chở cho dân.
Một phóng viên ngoại quốc đã tả sự chết trên con lộ tử thần nầy như trờI cũng chết, đất cũng chết, chết trên từng hạt cát, chết trên đầu ngọn lúa, chết tan tác, rã rời. Thế mà chỉ 14 ngày sau, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại ngạo nghễ bay trên cổ thành Quảng trị! Nó đã được các anh tái chiếm. Thử hỏi, trên thế giớI nầy có ngừơi lính nào hào hùng như các anh, lại chịu nhiều hy sinh, gian khổ, đắng cay, tủi nhục như các anh"
Hởi anh, ngừơi linh năm xưa!
Nhờ các anh mà đồng bào miền Nam được sống trong 20 năm thanh bình thịnh vựơng, Tự do, Dân chủ. Nhưng thật bất ngờ, từ tháng 3 năm 1975, anh như ngừơi mộng du, cầm súng chết trân, nhìn đất nứơc từ từ bị nhuộm đỏ: từ Ban mê thuột đến Huế, Đà Nẳng, Komtum, Cam ranh, Nha trang...
Đến 10 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì lảnh đạo tối cao của các anh ra lệnh cho các anh buông súng.Trước đó, các anh đã nghe thấy các danh từ rút lui chiến thuật, tái phối trí mà không hiểu gì cả. Các anh chỉ thấy cấp chỉ huy trực tiếp của mình bỏ vị trí lui về phía sau, khiến các anh hoang mang, kinh ngạc, mất phương hướng, mất hàng ngủ, nhưng vẫn còn cầm súng, làm chậm bước tiến quân thù để cho cấp chỉ huy của anh an toàn trên đường trốn chạy.
Vậy mà những kẻ không có lương tri lại phê phán các anh không chịu chiến đãu. Nếu các anh không chịu chiến đãu thì ngừơi nông dân đâu có đất đề cày, ngừơi công nhân đâu còn nhà máy, xí nghiệp, người thành thị đâu có không khí tự do để thở, những kẻ cơ hộI đâu có dân chủ để mè nheo, ăn vạ, làm trận làm thượng vớI nó.
Nếu các anh không chịu chiến đãu thì các bà lớn đâu còn môi trường để áp phe, mua quan bán chức, các ông tướng đâu đựơc bình yên để tham nhũng, buôn lậu, cắt xén tiền viện trợ nứơc ngoài, ăn chận tiền lương của lính, liên tục đảo chánh lẫn nhau để tranh quyền, đoạt lợI, cho đến khi đất nứơc tiêu điều, kiệt quệ, viện trợ bị cắt, không còn gì để họ tranh giành vớI nhau nữa thì họ cùng nhau bỏ chạy ra nước ngoài, vứt lại cho các anh, cho chúng ta các tín niệm Danh dự- Tổ quốc- Trách nhiệm mà họ đã tuyên thệ trung thành.
Trong thế hoàn toàn tuyệt vọng, các anh vẫn tiếp tục cầm súng đánh địch những trận cuối cùng. Chỉ bằng M16, lưu đạn, chai xăng châm lửa, các anh xung phong tiêu diệt chiến xa T54 của địch khi chúng tiến đến cầu Thị nghè để tìm đừơng vào thành phố. Thay vì buông súng cởI bỏ áo lính, trở về gia đình thì nhiều người trong các anh đã chọn cho mình cái chết lãng mạn, hào hùng để đền nợ nước mà không cần ai truy thăng cấp bậc, truy tặng bảo quốc huân chương.
Hởi anh, ngừơi linh năm xưa!
Nhắc lại một đoạn đường lịch sử để chứng tỏ chúng tôi, những Sĩ quan quân lực VNCH không bao giờ quên các anh. Chắc các anh còn nhớ, trong lúc ngừơi bạn đồng minh và địch hớn hở nhận giải thửơng Nobel về hòa bình Việt Nam, trong lúc ngừơi ta nhảy múa, mở tiệc ăn mừng Hoà Bình thống nhất, thì chúng tôi lặng lẽ gỉa từ bạn bè, ngừơi yêu, cha mẹ, vợ con để đi ' học tập'.
Hành trang chúng tôi lên đừơng lần nầy chỉ ít thức ăn, năm ba bộ đồ cho 10 ngày hoặc một tháng. Vậy mà chúng tôi đã ra đi biền biệt, từ vài ba năm, đến cả chục năm, có ngườI đã phải cần đến 17 năm trờI mớI tiến bộ, mớI tiếp thu được ý nghĩa một danh từ đơn giản nhất mà cả loài ngừơi thông minh không nghỉ ra, học tập nghĩa là tù khổ sai!
Ngày cầm được giấy ra trại thì đầu chúng tôi bạc trắng, bứơc đi xiêu vẹo, trở về thành phố. Mọi người nhìn chúng tôi như kẻ xa lạ từ hành tinh nào đó trở về trái đất. Phải khó khăn lắm chúng tôi mớI tìm được căn nhà của mình. Đau đớn thay, người ra đón chúng tôi không phải là vợ, con mà là một anh Bắc kỳ, nón cối, xua đuổI chúng tôi như những kẻ ăn mày. Thì ra, nhà của chúng tôi, đã bị ngừơi ta chiếm đoạt, vợ con bị đuổI đi 'kinh tế mớI ', lại một danh từ lạ nữa. Kinh tế mớI là nơi khô cằn sỏi đá, hoặc nơi rừng núi, thăm u, hay đầm lầy, nước đọng, nơi chưa từng in dấu chân người. Vợ con chúng tôi phải tớI đó, bản thân chúng tôi phải tớI đó như cha ông ta từ ngàn năm trứơc, khi mớI bắt đầu mở cỏi, phải đi khai hoang lấy đất, xẻ gỗ làm nhà, đốt rừng làm rẩy, lắp đồng sâu làm ruộng, để hiểu 'câu lao động là vinh quang.'
Thành phố chỉ dành cho những kẻ trong rừng chui ra hoặc từ miền Bắc tràn vào. Với tấm giấy ra trại. và nhãn hiệu ngụy quân, chúng tôi không xin việc ở đâu được cả. Chúng tôi chỉ còn cách đạp xích lô chui để nuôi vợ, nuôi con, kiếm sống qua ngày. Chui có nghĩa là lén lút, là bất hợp pháp, vì chúng tôi đã mất quyền công dân, quyền làm ngừơi, nhất là ngườI thành phố. Giữa thành phố thân yêu, chúng tôi ngơ ngơ, ngác ngác vì chúng tôi ở rừng mớI về, còn những con đường thành phố thì đã thay tên lạ quắc. Chúng tôi đã sống như những kẻ lưu đày, cho đến ngày các anh tiễn chúng tôi lên đường sang Mỹ để tiếp tục kiếp sống lưu vong.

Hởi anh, ngừơi lính năm xưa!
Cho đến nay, các chánh khách, các giới truyền thông, báo chí ở Mỹ và Châu âu đã viết hàng ngàn quyển sách, bài báo, kể cả phim ảnh, kịch bản sân khấu để ca ngợI, vinh danh chúng ta cũng có, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ cuộc chiến đãu chánh nghĩa của chúng ta cũng có.
ĐờI sống ở xứ tự do phức tạp là vậy đó anh, nó có khả năng biến đổI từng cá nhân một cách sâu sắc. Vì vậy, mới có thêm một ông tướng nổi danh một thời, đã từng lảnh đạo nộI các, gọi là nội các chiến tranh, nay lại gọI đó là cuộc chiến tranh bẩn thỉu, từng đứng đầu chánh phủ gọI là chánh phủ của ngừơi nghèo, vậy mà giờ đây ông chỉ muốn làm ăn vớI tư bản, lại là tư bản đỏ... Những người như thế đã phản bộI chính họ, nếu họ có quên các anh, có quên chúng ta, thì cũng không phải là điều lạ .
Cơ duyên thay đổi, đất nước phải chịu cơn bỉ cực, nhân dân lầm than, ngườI lính chúng ta mỗI người mỗI ngả. Chúng ta đã thua một trận chiến, nhưng hãy xác định với nhau, chúng ta chưa thua cuộc chiến nầy! Chúng ta đã phải gỉa từ vũ khí nhưng mỗI ngườI chúng ta vẫn còn tại ngũ, it ra là trong thâm tâm, trong ý chí. Dầu ở hoàn cảnh, cương vị, nơi chốn khác nhau, anh hãy tin rằng mỗI chiến sĩ quân lực VNCH vẫn tiếp tục con đường chiến đãu dang dở dướI hình thức thích hợp khác nhau. Những kẻ mặc áo gấm về làng, ngồi nhà hàng, ở khách sạn năm sao như anh nói, chỉ là thiểu số, không có chỗ đứng trong hàng ngủ chúng ta, anh hãy an tâm.
Giờ, tôi muốn gửI đến anh những tín hiệu vui, những sự kiện nói lên ý chí quyết tâm, và sự đòan kết một lòng một dạ của anh em mình cùng đồng bào tị nạn trong việc chống Cộng tai quê người và những âm mưu xâm nhập, lũng đoạn cộng đồng chúng ta của Cộng sản dướI nhiều hình thức. Hy vọng những tin nầy sẽ làm anh phấn khởI và tin tưởng hơn vào tập thể chúng ta. Trước đây có nhiều nhóm, nhiều mặt trận, phong trào thực hiện ước mơ giải phóng quê hương bằng vỏ trang cách mạng, nhưng không thành. Nhiều ngườI bị bắt, bị kết án và tù đày. Những ngườI khác thì bỏ xác nơi rừng sâu, biên giới.
Kế tiếp là những cuộc đãu tranh chánh trị vớI các chiến dịch tố cáo bạo quyền Cộng sản qua vụ thuyền nhân, chuyển lửa về quê nhà, yểm trợ các phong trào đối kháng, đãu tranh đòi Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho đồng bào quốc nội. Bên cạnh đó còn có những hành động yêu nước dũng cảm, chống Cộng ngoạn mục như dùng máy bay về Sài gòn thả truyền đơn, kêu gọI đồng bào đứng lên lật đổ bạo quyền, dùng xe ủi đất tấn công vào toà đại sứ Việt cộng ở Paris để treo cho được lá cờ chánh nghĩa quốc gia.
Trong khi đó thì Cộng sản ở đây cũng không vừa. LợI dụng chế độ Tự do, Dân chủ và quyền tự do phát biểu có ghi trong hiến pháp của Mỹ ở tu chánh án thứ nhất, Trần Trường đem hình Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng treo trong cửa hiệu cho thuê băng nhạc của y tại Quận Cam, tiểu bang California để thăm dò phản ứng và thách thức cộng đồng ngườI Việt hải ngoại. Đồng bào và chiến sĩ ta từ các nơi đổ về cũng dùng phương thức đãu tranh bất bạo động, biểu tình suốt 53 ngày đêm. Cuối cùng tên tai sai Cộng sản phải chịu thua, đành gở bỏ hình ảnh và biểu tượng của tôi ác. Bản thân sự việc đã mang nhiều ý nghĩa, còn đối vớI quốc tế, đây là một thắng lợI vang vộI của lý tưởng Quốc gia.
Một công trình có ý nghĩa đã được thực hiện tại công viên Tự do, thành phố West minster, thủ đô của ngườI Việt tị nạn tiểu bang Cali. Đó là việc khánh thành tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ ngày 27-04-03 lúc 11 giờ để ghi ơn các chiến sĩ VNCH và Hoa kỳ, những anh hùng đã hy sinh xương máu bảo vệ miền Nam tự do chống Cộng sản xâm lược.Trước đó là một cuộc tập hợp hơn 25 ngàn trong số 135 ngàn ngườI Việt ở quận Cam đi biểu tình ủng hộ trong một thờI điểm, là một tỉ lệ lớn kỷ lục chưa từng có (tương đương 50 triệu trong số 270 triệu ngườI Mỹ ).
Hiện nay, ở nhiều quốc hộI các tiểu bang cũng như ở các hội đồng thành phố, các quận hạt ở nước Mỹ đã ra nhiều nghị quyết, chánh thức công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, là biểu tượng của khối ngườI Việt hải ngoại. Các nghị quyết có tính pháp lý nầy không chỉ giớI hạn trong ý nghĩa chiến thuật hay trong phạm vi địa phương mà còn ảnh hưởng vang dộI vào từng con tim của mỗI ngườI Việt Nam tại quê nhà và hải ngoại, cùng những ngườI yêu chuộng Tự do, Dân chủ trên thế giới.
Thưa anh, người lính năm xưa.
Chắc chắn, càng ngày chúng ta càng nhìn thấy nhiều lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phất phớI ở nước Mỹ nầy, cũng như ở nơi nào có ngườI Việt sinh sống. Đến ngày nào đó, chắc không lâu, mọi ngườI chúng ta sẽ được chào lá quốc kỳ trên quê hương yêu dấu.
Chicago, đầu năm 2004.
Một sĩ quan QL. VNCH
DUY NHÂN

Thân gửi anh người lính năm xưa,
Thư Gởi Người Lính Năm Xưa
(03/15/2004) 
Người viết: DUY NHÂN
Bài số: 493-1030-vb5110304
Duy Nhân là một tác giả đã được trao tặng giải thưởng Viết Về Nước Mỹ năm trước và vẫn liên tiếp góp thêm những bài mới. ghi lại nhiều kinh nghiệm và suy nghĩ trên đất Mỹ của một cưu sĩ quan, cựu tù nhân Cộng sản. Tác giả hiện sống tại Chicago và sau đây là bài viết mới nhất của ông.
Bây giờ là mùa đông. Ở Chicago nầy mùa đông rất lạnh. Mỗi khi trờI lạnh như thế nầy thì hắn thấy nhức ở đùi bên phải, nơi vẫn còn ghim những mảnh đạn trong một lần chạm súng với địch ở miền Tây năm 1972.
Vết thương chiến tranh của 32 năm trước tuy có nhức, nhưng vẫn không bằng cái nhức nhối trong hồn mà hắn cảm thấy mấy ngày nay khi đọc báo biết được cộng đồng ngườI Việt khắp nơi đồng loạt phản ứng chống lại một ông tướng mới về Việt Nam ca tụng chế độ Cộng sản, hô hào hòa hợp, hòa giải, tìm cơ hội làm ăn vớI Cộng sản.
Nghĩ về ông tứơng, hắn lại nhớ đến một thương binh VNCH cụt một chân và hư một mắt tại chiến trừơng An lộc năm 1972, vừa mới gửi từ Việt nam cho hắn một lá thư nhờ chuyển tới các cấp chỉ huy ngày xưa.Thư đựơc phổ biến trên tuần báo Trách nhiệm số 107. Thư nầy có ý hờn trách những sĩ quan QL.VNCH mặc áo gấm về làng, ngồi nhà hàng, ở khách sạn năm sao, tung tiền ra để chứng tỏ là Việt kiều yêu nứơc, đồng thời tính chuyện hòa hợp, hòa giải vớI Cộng sản. Thư có đoạn viết “những ngừơi lính QL.VNCH đang lê lết ngòai cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống, vui chơi. Hận thù lớn nhất của ngừơi lính là sự bộI bạc.” Thư có nhắc đến những tổ chức, hội đoàn của cựu quân nhân lập ra thì nhiều mà không thống nhất mục tiêu tranh đấu, phương pháp thực hiện, nhiều lúc còn đối đầu, chống phá lẫn nhau. Thư cũng nhắc đến những sự kiện bát nháo trên xứ ngừơi. Đó là những tổ chức kháng chiến ma, những mặt trận dỏm, những chánh phủ tự phong v ...v. Thư viết tiếp, xin cám ơn các anh về những đồng đô la mà các anh đã gửI về cho chúng tôi trong những chương trình giúp đỡ thương phế binh QL.VNCH. Những đồng tiền đó, dầu có giúp cho chúng tôi trong một thờI gian ngắn, dầu có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần, nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗI nhục mất nước. Đọan kết thư viết : Chúng tôi là những ngừơi lính năm xưa của các anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các anh, tin tưởng vào ngày về rửa nhục để mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm ngừơi, chấm dứt đêm trừơng u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc ngót 29 năm dài.
Một ông tứơng và một ngườI lính! Hai hình ảnh hoàn tòan trái ngược. Ông tứơng thì ngừơi ta đã nhắc tới qúa nhiều, còn ngườI lính thì không ai nhắc đến. Hắn không thể nào chịu được. Cuối cùng thì hắn quyết định viết cho ngừơi lính năm xưa:

Thân gửi Anh,
người lính năm xưa,
Tôi là một sĩ quan QL.VNCH, từng là cấp chỉ huy của các anh đây. Tôi thấy thật là lúng túng, khó khăn, không biết phải mở đầu lá thư nầy như thế nào cho suông sẻ, nhất là cách xưng hô.
Thật là ngựơng ngùng khi phải nghe lại những danh từ Hải Long, Hắc Báo, Đại Bàng, Bắc Đẩu mà ngày xưa các anh đã gọi chúng tôi một cách thân thương và kính trọng của môt binh sĩ đối với cấp chỉ huy của mình. Danh từ Sĩ quan tôi dùng là muốn xác định trách nhiệm của chúng tôi đối vớI các anh, ngày trứơc cũng như bây giờ, vậy thôi. Cấp bực và chức vụ nào có nghĩa lý gì trong lúc nầy, khi mà tất cả chúng ta đều là người bại trận. Vậy thì, tôi đề nghị, mình hãy nói chuyện vớI nhau như những ngừơi lính đã từng sát cánh, chiến đãu bên nhau trong môt trận tuyến, cùng chung mục đích, lý tửơng là chống Cộng sản xâm lược. Còn những ai cho rằng cuộc chiến vừa qua là bẩn thỉu thì chắc là lý tửơng của họ khác chúng ta.
Đã 29 năm qua, nhưng tôi có cảm tửơng như mớI ngày nào đây thôi. Cái ngày chia tay có rựơu nồng chan hòa nứơc mắt, ngày các anh tiển chúng tôi ra đi định cư tại nứơc Mỹ nầy, để chúng tôi có điều kiện thuận lợI trong cuộc chiến đãu mớI và thầm mong ngày về vinh quang.
Trong thư, anh bày tỏ mối lo sợ là chúng tôi đã quên các anh, quên những chiến sĩ của mình đã nằm xuống vĩnh viển trên đất mẹ thiêng liêng, quên những đồng độI còn sống sót trong tấm thân tật nguyền, đau khổ, lây lất nơi đầu đừơng, xó chợ, đi vá xe đạp, đi bán vé số, thậm chí, đi ăn xin, kiếm sống qua ngày. Không! Chúng tôi không bao giờ quên các anh. Ngoài các anh, chúng tôi còn nhớ những ngừơi bạn của mình đã ngả gục ở các trại tập trung trong Nam, ngòai Bắc, hoặc đã bỏ mình nơi rừng sâu hay đã nằm im dứơi lòng đại dương khi cố gắng vượt biên, hoăc còn đang khoắc khoải vớI kếp sống lưu đày ở đâu đó nơi xứ lạ, quê ngừơi.
Hỡi anh, ngừơi lính năm xưa!
Làm sao mà chúng tôi quên được hình ảnh của các anh trên khắp 4 vùng chiến thuật, trên mọI nẻo đường đất nứơc. Lúc thì Năm Căn, Cà Mau, Kiến phong, Kiến từơng, Rạch gía...
Ở đó, từ sáng tinh mơ cho đến chiều tối không có lúc nào mà bộ đồ trận anh mặc trên ngừơi đựơc khô ráo. Hết hành quân truy lùng, đến hành quân giải dây, tiếp tế. Hết lộI ruộng, anh lại băng rừng. Nào rừng đước, rừng tràm, rừng lá...
Có lúc anh hợp đồng chiến đãu, có lúc anh chiến đãu một mình trong rừng cả tháng không thấy ánh mặt trời. Giả từ miền Tây, anh lại ra Trung, nơi địa đầu giớI tuyến, nơi hoàn toàn xa lạ, để rồi bỏ thây nơi đó để cho nơi nầy thành ra nỗi tiếng, nào Cổ thành Quảng trị, Tống lê Chân, Bình Long, An Lộc, Khe Sanh, Hạ Lào...
Có lúc các anh phải sống ở địa đạo, chịu đựng mỗI ngày từ 8000 đến 10000 qủa đạn pháo. Nào ai có biết" Các anh uống nước rễ cây, ăn hoa lá, côn trùng để cầm cự với địch là chuyện bình thường. Trong khi đó, có một số ngừơi thành phố vẫn sống trong nhà cao, cửa rộng, nệm ấm, chăn êm, ném tiền qua cửa sổ, ăn chơi, trụy lạc, thâu đêm suốt sáng nơi vũ trường, phòng trà, tửu quán. Họ không hề biết chiến tranh là gì, làm như chiến tranh là chuyện riêng của các anh, không liên quan gì tới họ. Đã thế, lâu lâu họ còn bày trò biểu tình để đòi 'quyền sống' xuống đừơng đòi Tự do Dân chủ, tự do Tôn giáo... Nếu những ngừơi nầy còn có lương tâm để phản tỉnh, chắc họ thương các anh lắm. Nhưng rất tiếc, điều đó đã quá muộn màng.
Trong hơn 20 năm dài, kể từ lúc ngừơi anh em phương Bắc theo chủ nghĩa ngoại lai cầm vũ khí Nga, Tàu và khối Cộng trao cho để xâm nhập, phát động chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng, hầu nhuộm đỏ miền Nam, thì các anh chưa hề có một giấc ngủ bình yên. Vì có ngày nào mà bom không nổ, đạn không rơi trên lảnh thổ miền Nam" Các anh cũng là những ngừơi không có mùa Xuân. Nhiệm vụ các anh là phải ôm súng, đứng gác nơi tiền đồn để canh giử mùa Xuân cho đồng bào, cho mọI ngườI, mọI nhà. Mùa Xuân chỉ đế vớI các anh bằng cánh mai rừng nở muộn. Chỉ có mùa Xuân năm 1968 vì qúa tin vào thỏa hiệp hưu chiến của phía bên kia mà các anh buông lơi tay sung. LợI dụng dịp đó, giặc bất ngờ, đồng loạt tấn công vào các thành phố, thị xã miền Nam, gây tang thương, chết chóc cho biết bao dân lành vô tội. Các anh phải chịu nhiều hy sinh, mất mát và phải vất vả lắm mớI giành lại thế chủ động. đẩy lùi địch ra khỏi các đô thị miền Nam, cắm lại ngọn cờ chánh nghĩa quốc gia trên thành phố Huế sau 25 ngày đêm bị địch chiếm và gây ta tộI ác trờI không dung ,đất không tha, khiến cho vạn vật phải ngậm ngùi, qũy thần phải rơi lệ : 5000 quân dân cán chính bị hành hình và vùi thây ở những hố chôn tập thể. 


 


Thật ra, các anh đâu chỉ biết có mỗi một việc là cầm súng. Có nhiều lúc các anh còn phải tay súng tay cày, hoặc vai mang súng, tay cầm liềm gặt lúa phụ giúp ngừơi nông dân trong việc đồng áng. Lúc thì các anh khám bệnh, phát thuốc cho đồng bào, lúc làm thày giáo dạy học. Tất cả đã tạo nên một hình ảnh rất đẹp trong lòng ngừơi dân, khiến cho, anh đến dân mừng, anh đi dân nhớ. Những lúc giặc tràn về thôm xóm thì ngừơi dân bỏ chạy, tìm về phía các anh để được bảo vệ chở che, thắm đượm tình quân dân cá nước.
Thế rồi mùa hè đỏ lửa lại đến. Tháng 5 năm1972 giặc chiếm Quảng Trị. Lần nầy thì cả dân và quân cùng chạy. Quốc lộ 1 Nam Quảng trị đã biến thành đại lộ kinh hoàng, xa lộ tử thần. Hàng ngàn trái pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly như mưa rơi rãi trên đầu ngừơi dân. Hàng hàng lớp lớp dân chúng bị đốn ngã như thân chuối trong cơn bão lửa. Trong cơn hoảng loạn, các anh vẫn bình tỉnh, tay bồng em bé, tay dắc cụ gìa chạy trong mưa pháo, dùng chính thân xác của mình che chở cho dân.
Một phóng viên ngoại quốc đã tả sự chết trên con lộ tử thần nầy như trờI cũng chết, đất cũng chết, chết trên từng hạt cát, chết trên đầu ngọn lúa, chết tan tác, rã rời. Thế mà chỉ 14 ngày sau, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại ngạo nghễ bay trên cổ thành Quảng trị! Nó đã được các anh tái chiếm. Thử hỏi, trên thế giớI nầy có ngừơi lính nào hào hùng như các anh, lại chịu nhiều hy sinh, gian khổ, đắng cay, tủi nhục như các anh"
Hởi anh, ngừơi linh năm xưa!
Nhờ các anh mà đồng bào miền Nam được sống trong 20 năm thanh bình thịnh vựơng, Tự do, Dân chủ. Nhưng thật bất ngờ, từ tháng 3 năm 1975, anh như ngừơi mộng du, cầm súng chết trân, nhìn đất nứơc từ từ bị nhuộm đỏ: từ Ban mê thuột đến Huế, Đà Nẳng, Komtum, Cam ranh, Nha trang...
Đến 10 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì lảnh đạo tối cao của các anh ra lệnh cho các anh buông súng.Trước đó, các anh đã nghe thấy các danh từ rút lui chiến thuật, tái phối trí mà không hiểu gì cả. Các anh chỉ thấy cấp chỉ huy trực tiếp của mình bỏ vị trí lui về phía sau, khiến các anh hoang mang, kinh ngạc, mất phương hướng, mất hàng ngủ, nhưng vẫn còn cầm súng, làm chậm bước tiến quân thù để cho cấp chỉ huy của anh an toàn trên đường trốn chạy.
Vậy mà những kẻ không có lương tri lại phê phán các anh không chịu chiến đãu. Nếu các anh không chịu chiến đãu thì ngừơi nông dân đâu có đất đề cày, ngừơi công nhân đâu còn nhà máy, xí nghiệp, người thành thị đâu có không khí tự do để thở, những kẻ cơ hộI đâu có dân chủ để mè nheo, ăn vạ, làm trận làm thượng vớI nó.
Nếu các anh không chịu chiến đãu thì các bà lớn đâu còn môi trường để áp phe, mua quan bán chức, các ông tướng đâu đựơc bình yên để tham nhũng, buôn lậu, cắt xén tiền viện trợ nứơc ngoài, ăn chận tiền lương của lính, liên tục đảo chánh lẫn nhau để tranh quyền, đoạt lợI, cho đến khi đất nứơc tiêu điều, kiệt quệ, viện trợ bị cắt, không còn gì để họ tranh giành vớI nhau nữa thì họ cùng nhau bỏ chạy ra nước ngoài, vứt lại cho các anh, cho chúng ta các tín niệm Danh dự- Tổ quốc- Trách nhiệm mà họ đã tuyên thệ trung thành.
Trong thế hoàn toàn tuyệt vọng, các anh vẫn tiếp tục cầm súng đánh địch những trận cuối cùng. Chỉ bằng M16, lưu đạn, chai xăng châm lửa, các anh xung phong tiêu diệt chiến xa T54 của địch khi chúng tiến đến cầu Thị nghè để tìm đừơng vào thành phố. Thay vì buông súng cởI bỏ áo lính, trở về gia đình thì nhiều người trong các anh đã chọn cho mình cái chết lãng mạn, hào hùng để đền nợ nước mà không cần ai truy thăng cấp bậc, truy tặng bảo quốc huân chương.
Hởi anh, ngừơi linh năm xưa!
Nhắc lại một đoạn đường lịch sử để chứng tỏ chúng tôi, những Sĩ quan quân lực VNCH không bao giờ quên các anh. Chắc các anh còn nhớ, trong lúc ngừơi bạn đồng minh và địch hớn hở nhận giải thửơng Nobel về hòa bình Việt Nam, trong lúc ngừơi ta nhảy múa, mở tiệc ăn mừng Hoà Bình thống nhất, thì chúng tôi lặng lẽ gỉa từ bạn bè, ngừơi yêu, cha mẹ, vợ con để đi ' học tập'.
Hành trang chúng tôi lên đừơng lần nầy chỉ ít thức ăn, năm ba bộ đồ cho 10 ngày hoặc một tháng. Vậy mà chúng tôi đã ra đi biền biệt, từ vài ba năm, đến cả chục năm, có ngườI đã phải cần đến 17 năm trờI mớI tiến bộ, mớI tiếp thu được ý nghĩa một danh từ đơn giản nhất mà cả loài ngừơi thông minh không nghỉ ra, học tập nghĩa là tù khổ sai!
Ngày cầm được giấy ra trại thì đầu chúng tôi bạc trắng, bứơc đi xiêu vẹo, trở về thành phố. Mọi người nhìn chúng tôi như kẻ xa lạ từ hành tinh nào đó trở về trái đất. Phải khó khăn lắm chúng tôi mớI tìm được căn nhà của mình. Đau đớn thay, người ra đón chúng tôi không phải là vợ, con mà là một anh Bắc kỳ, nón cối, xua đuổI chúng tôi như những kẻ ăn mày. Thì ra, nhà của chúng tôi, đã bị ngừơi ta chiếm đoạt, vợ con bị đuổI đi 'kinh tế mớI ', lại một danh từ lạ nữa. Kinh tế mớI là nơi khô cằn sỏi đá, hoặc nơi rừng núi, thăm u, hay đầm lầy, nước đọng, nơi chưa từng in dấu chân người. Vợ con chúng tôi phải tớI đó, bản thân chúng tôi phải tớI đó như cha ông ta từ ngàn năm trứơc, khi mớI bắt đầu mở cỏi, phải đi khai hoang lấy đất, xẻ gỗ làm nhà, đốt rừng làm rẩy, lắp đồng sâu làm ruộng, để hiểu 'câu lao động là vinh quang.'
Thành phố chỉ dành cho những kẻ trong rừng chui ra hoặc từ miền Bắc tràn vào. Với tấm giấy ra trại. và nhãn hiệu ngụy quân, chúng tôi không xin việc ở đâu được cả. Chúng tôi chỉ còn cách đạp xích lô chui để nuôi vợ, nuôi con, kiếm sống qua ngày. Chui có nghĩa là lén lút, là bất hợp pháp, vì chúng tôi đã mất quyền công dân, quyền làm ngừơi, nhất là ngườI thành phố. Giữa thành phố thân yêu, chúng tôi ngơ ngơ, ngác ngác vì chúng tôi ở rừng mớI về, còn những con đường thành phố thì đã thay tên lạ quắc. Chúng tôi đã sống như những kẻ lưu đày, cho đến ngày các anh tiễn chúng tôi lên đường sang Mỹ để tiếp tục kiếp sống lưu vong.

Hởi anh, ngừơi lính năm xưa!
Cho đến nay, các chánh khách, các giới truyền thông, báo chí ở Mỹ và Châu âu đã viết hàng ngàn quyển sách, bài báo, kể cả phim ảnh, kịch bản sân khấu để ca ngợI, vinh danh chúng ta cũng có, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ cuộc chiến đãu chánh nghĩa của chúng ta cũng có.
ĐờI sống ở xứ tự do phức tạp là vậy đó anh, nó có khả năng biến đổI từng cá nhân một cách sâu sắc. Vì vậy, mới có thêm một ông tướng nổi danh một thời, đã từng lảnh đạo nộI các, gọi là nội các chiến tranh, nay lại gọI đó là cuộc chiến tranh bẩn thỉu, từng đứng đầu chánh phủ gọI là chánh phủ của ngừơi nghèo, vậy mà giờ đây ông chỉ muốn làm ăn vớI tư bản, lại là tư bản đỏ... Những người như thế đã phản bộI chính họ, nếu họ có quên các anh, có quên chúng ta, thì cũng không phải là điều lạ .
Cơ duyên thay đổi, đất nước phải chịu cơn bỉ cực, nhân dân lầm than, ngườI lính chúng ta mỗI người mỗI ngả. Chúng ta đã thua một trận chiến, nhưng hãy xác định với nhau, chúng ta chưa thua cuộc chiến nầy! Chúng ta đã phải gỉa từ vũ khí nhưng mỗI ngườI chúng ta vẫn còn tại ngũ, it ra là trong thâm tâm, trong ý chí. Dầu ở hoàn cảnh, cương vị, nơi chốn khác nhau, anh hãy tin rằng mỗI chiến sĩ quân lực VNCH vẫn tiếp tục con đường chiến đãu dang dở dướI hình thức thích hợp khác nhau. Những kẻ mặc áo gấm về làng, ngồi nhà hàng, ở khách sạn năm sao như anh nói, chỉ là thiểu số, không có chỗ đứng trong hàng ngủ chúng ta, anh hãy an tâm.
Giờ, tôi muốn gửI đến anh những tín hiệu vui, những sự kiện nói lên ý chí quyết tâm, và sự đòan kết một lòng một dạ của anh em mình cùng đồng bào tị nạn trong việc chống Cộng tai quê người và những âm mưu xâm nhập, lũng đoạn cộng đồng chúng ta của Cộng sản dướI nhiều hình thức. Hy vọng những tin nầy sẽ làm anh phấn khởI và tin tưởng hơn vào tập thể chúng ta. Trước đây có nhiều nhóm, nhiều mặt trận, phong trào thực hiện ước mơ giải phóng quê hương bằng vỏ trang cách mạng, nhưng không thành. Nhiều ngườI bị bắt, bị kết án và tù đày. Những ngườI khác thì bỏ xác nơi rừng sâu, biên giới.
Kế tiếp là những cuộc đãu tranh chánh trị vớI các chiến dịch tố cáo bạo quyền Cộng sản qua vụ thuyền nhân, chuyển lửa về quê nhà, yểm trợ các phong trào đối kháng, đãu tranh đòi Tự do, Dân chủ và Nhân quyền cho đồng bào quốc nội. Bên cạnh đó còn có những hành động yêu nước dũng cảm, chống Cộng ngoạn mục như dùng máy bay về Sài gòn thả truyền đơn, kêu gọI đồng bào đứng lên lật đổ bạo quyền, dùng xe ủi đất tấn công vào toà đại sứ Việt cộng ở Paris để treo cho được lá cờ chánh nghĩa quốc gia.
Trong khi đó thì Cộng sản ở đây cũng không vừa. LợI dụng chế độ Tự do, Dân chủ và quyền tự do phát biểu có ghi trong hiến pháp của Mỹ ở tu chánh án thứ nhất, Trần Trường đem hình Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng treo trong cửa hiệu cho thuê băng nhạc của y tại Quận Cam, tiểu bang California để thăm dò phản ứng và thách thức cộng đồng ngườI Việt hải ngoại. Đồng bào và chiến sĩ ta từ các nơi đổ về cũng dùng phương thức đãu tranh bất bạo động, biểu tình suốt 53 ngày đêm. Cuối cùng tên tai sai Cộng sản phải chịu thua, đành gở bỏ hình ảnh và biểu tượng của tôi ác. Bản thân sự việc đã mang nhiều ý nghĩa, còn đối vớI quốc tế, đây là một thắng lợI vang vộI của lý tưởng Quốc gia.
Một công trình có ý nghĩa đã được thực hiện tại công viên Tự do, thành phố West minster, thủ đô của ngườI Việt tị nạn tiểu bang Cali. Đó là việc khánh thành tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ ngày 27-04-03 lúc 11 giờ để ghi ơn các chiến sĩ VNCH và Hoa kỳ, những anh hùng đã hy sinh xương máu bảo vệ miền Nam tự do chống Cộng sản xâm lược.Trước đó là một cuộc tập hợp hơn 25 ngàn trong số 135 ngàn ngườI Việt ở quận Cam đi biểu tình ủng hộ trong một thờI điểm, là một tỉ lệ lớn kỷ lục chưa từng có (tương đương 50 triệu trong số 270 triệu ngườI Mỹ ).
Hiện nay, ở nhiều quốc hộI các tiểu bang cũng như ở các hội đồng thành phố, các quận hạt ở nước Mỹ đã ra nhiều nghị quyết, chánh thức công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ, là biểu tượng của khối ngườI Việt hải ngoại. Các nghị quyết có tính pháp lý nầy không chỉ giớI hạn trong ý nghĩa chiến thuật hay trong phạm vi địa phương mà còn ảnh hưởng vang dộI vào từng con tim của mỗI ngườI Việt Nam tại quê nhà và hải ngoại, cùng những ngườI yêu chuộng Tự do, Dân chủ trên thế giới.
Thưa anh, người lính năm xưa.
Chắc chắn, càng ngày chúng ta càng nhìn thấy nhiều lá cờ vàng ba sọc đỏ bay phất phớI ở nước Mỹ nầy, cũng như ở nơi nào có ngườI Việt sinh sống. Đến ngày nào đó, chắc không lâu, mọi ngườI chúng ta sẽ được chào lá quốc kỳ trên quê hương yêu dấu.
Chicago, đầu năm 2004.
Một sĩ quan QL. VNCH
DUY NHÂN

Friday, November 8, 2013

Lá Thư Gửi Hai vị Bộ Trưởng Quốc Phòng, ông Chuck Hagel và Bộ Trưởng Ngoại Giao, ông John Kerry


On Friday, November 8, 2013 6:07 AM, Tuan Le wrote:
Kính thưa quý vị,

Đính kèm là lá thư gởi đến Ngoại Trưởng John Kerry và Bộ trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel, nhờ hai ông lên tiếng với nhà nước Việt Nam về vấn đề trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.

Trong thư, ông Nguyễn Đạc Thành đã nói rằng: Mục đích của VAF là mang lại sự tôn trọng đúng nghĩa cho những người đã hy sinh và chia sẻ nỗi đau, đem bình an đến thân nhân của họ.
Tiếc thay, cho tới hôm nay, nhà nước Việt Nam vẫn chưa có 1 chính sách rõ ràng hay bất cứ sự cam kết nào nhằm giải quyết hệ lụy chiến tranh.

Hoa Kỳ đã đề cập đến hậu quả chiến tranh  qua việc viện trợ 125 triệu đô cho các chương trình nhân đạo liên quan tới chất độc da cam hay tháo gỡ bom mìn chưa nổ. Trong khi đó, nhà nước Việt Nam tù chối đề cập đến sự quan tâm của người Mỹ.

Ông Nguyễn Đạc Thành đề nghị Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thảo luận việc trùng tu NTQĐBH trong những lần đối tới sắp tới với nhà nuớc Việt Nam


Kính thưa quý vị,
Tuan Le cố gắng dịch lại tiếng Việt các điểm chính trong lá thư  bằng khả năng hạn hẹp của mình, chắc chắn có thiếu sót, rất mong các vị có khả năng xin vui lòng dịch lại dùm.

Kính
Tuan Le




Monday, November 4, 2013

Nhìn Kỹ Đi..?

Nhìn Kỹ Đi..?
(TVA572 viết lại từ facebook của bạn Đỗ Đăng Triển)


"Nhìn kỹ đi..?mới thấy lòng thương cm
Xót xa rồi cũng lại đến xót xa 
Nhớ đồng đội ta quỳ đây ta khấn
Cho NGHĨA TRANG sạch đẹp được khang trang Của QUÂN ĐỘI một thời vang bóng đó
Chúng tôi nằm cỏ mọc cứ tràn lan
Xin làm sạch kẻo chúng đâm đau lắm
Ba tám năm rồi không ai ngó tới
Một nén nhang lòng cũng chẳng thắp cho
Đau đớn thay người TỬ SĨ oai hùng
Giờ mới có những người xưa nghĩ đến
Xây dựng lại mộ phần tôi cho đẹp
Thắp nén nhang để ấm cùng lòng tôi
Dù ba tám năm rồi không nhớ đến
Chúng tôi vui với nghĩa cử thiêng liêng
Của những người lòng nhân ái phương xa
Đồng đội cũ một thời cùng chiến đấu
Dưới âm phủ chúng tôi cười mãn nguyện
"

TÌM VỀ CHỐN XƯA

TÌM VỀ CHỐN XƯA

(TVA viết lại theo facebook của bạn Đỗ Đăng Triển ĐĐ1, TĐ5 TQLC)


AN LỘC Địa sử ghi chiến tích
BIỆT CÁCH DÙ vị quốc vong thân
Hai câu ấy đi vào chiến sử
Trong đáy lòng người lính miền nam
Để hôm nay tôi trở về AN LỘC
Thăm mộ phần của lính BĐQ
Cùng tám mốt anh em S
ư 18
Thật đau buồn khi thấy m VÔ DANH
Trên mộ chí chỉ ghi tên và tuổi
Không ngày tháng,số quân cùng đơn vị
Đau buồn nào cho người lính MIỀN NAM
Nằm hiu quạnh trong nghĩa trang lạnh lẽo
Phải phơi nắng,phơi sương cùng tuế nguyệt
Hôm nay đây có những bạn tôi về
Thăm lại mộ thắp nhang và khấn vái
Cho ấm lòng người lính thuở xa xưa
Thật ngưỡng mộ giơ tay tôi chào kính
AN LỘC đó mãi mãi ở trong tim


Viết lại theo facebook của bạn Đỗ Đăng Triển ĐĐ1, TĐ5 TQLC.


TÂM SỰ NẤM MỘ HOANG

TÂM SỰ NẤM MỘ HOANG


5 trên 5 đại bàng tôi nhận rõ
Xin báo cáo nghĩa trang bạn tôi nằm
Hoang vu lắm xung quanh toàn cây cối
Cỏ mọc đầy trên nấm mộ tràn lan
Bia chỉ dám đề danh mồ tập thể
Cùng tên tuổi ngày mất đó thôi sao
Còn đơn vị của tôi đâu không thấy
Đau buồn quá trời cao người có thấu
Áo hoa dù rằn ri người lính chiến
SƯ 18 chiến công đầy oanh liệt
BIỆT CÁCH DÙ đã vị quốc vong thân
Giờ nằm xuống VÔ DANH không đơn vị
Xin phục hồi binh chủng đó cho tôi
Nơi chín suối vô vàn lời cảm tạ
AN LỘC này sử mãi mãi ghi danh


TVA572 viết lại từ facebook của bạn
Bên Thua Cuộc-Đỗ Đăng Triển
ĐĐ1, TĐ5 TQLC


BÊN THUA CUỘC

Friday, November 1, 2013

Bên Dòng Bến Hải


Bên Dòng Bến Hải
   
Trần Khải  
(Sưu tầm qua email-do một người bạn đã chuyển)


Dòng sông Bến Hải, nơi chia đôi đất nước nhiều thập niên, cũng là một nơi mang biêủ tượng cuủ Chiến Tranh Việt Nam.

Nơi đó, những ngăn đôi đất nước cũng là những bước đi mang đầy máu lửa, bom đạn...

Bản tin Đài RFA cho biết, mới tuần trước, một phái đoàn Phật tử Nhật Bản tới bên dòng sông này cầu siêu. Nhiều nhà sư từ Huế ra cũng tham dự lễ cầu siêu này. Tuy lễ cầu siêu là kín đáó, nhưng cũng là một dấu hiệu hòa dịu của chính quyền địa phương, vì trước giờ nhà nước CSVN chỉ hài lòng với các lễ cầu siêu cho liệt sĩ bộ đội CS, và không hài lòng với cac1 lễ cầu siêu cho tử sĩ VNCH.

Trong khi đó, nhà văn Lê Khả Sỹ từ Hà Nội, trên blog riêng đã phổ biến lá thư gửi Quốc hôi, trong đó nhà văn cao niên này kêu gọi tử sĩ VNCH cũng là con em Việt, và vết thương nội chiến cần hàn gắn để đưa đất nước tới chỗ thực sự hòa giải. Và đề nghị không kỷ niệm “ngày toàn thắng 30-4.”

Mặt khác, cụ già đảng viên Lê Trấn Gia đã phổ biến trên mạng Viet-Studies thư gửi Tổng Bí Thư CSVN trong đó cảnh báo rằng người dân sẽ giật sập chế độ nếu thực sự không có đổi mới.

Bản tin RFA có tựa đề là “Lễ cầu siêu bên bờ Bến Hải” trong đó có một số hình ảnh gửi từ người tham dự lễ cầu siêu. Bản tin RFA viết, trích như sau:

“Ngày 23/10/2013 một sự kiện khuấy động nhè nhẹ không khí vắng lặng thường nhật ở bờ bắc cầu Hiền Lương bên sông Bến Hải. Một đoàn Phật tử người Nhật dựng đàn cầu siêu cùng các nhà sư Việt Nam từ Huế ra. Tiếng kinh kệ trầm bổng bằng hai thứ tiếng xen kẽ nhau, trong khói hương trầm thoảng hương cúc mùa thu trên đàn thờ Phật làm hồi tưởng tiếng rít chát chúa của bom đạn của mùa hè 41 năm trước, mùa hè đỏ lửa 1972...

...Bốn mươi Phật tử Nhật bản âm thầm đến từ ngàn dặm xa, với mục đích giản đơn là cầu siêu cho tất cả các vong linh của cuộc chiến năm xưa. Họ kín đáo thực hiện buổi cầu siêu, không tiếp xúc giới truyền thông...

...Cách bờ sông Bến Hải không xa về phía Nam là cổ thành Quảng trị. Sau trận chiến 1972 cổ thành chỉ còn là một đống gạch vụn. Ngày nay, nơi đây là một bảo tàng chiến tranh lớn, mà trong đó chỉ thấy những thành tích chiến thắng của một bên, cùng những thương vong của bên kia được đưa ra như niềm tự hào của những người chiến thắng.

Cũng đã có những cố gắng của những người Việt nhằm hóa giải vết cắt năm xưa. Có những cố gắng đang tiến triển khả quan như dự định trùng tu nghĩa trang chiến sĩ VNCH tại Biên Hòa. Song cũng có những cố gắng đi đến thất bại như đại lễ cầu siêu năm xưa cho người chết cả hai phía của người Phật tử Thích Nhất Hạnh...

...Một nhà sư khác ở chùa Từ Đàm, thành phố Huế, có tham gia vào việc tổ chức buổi chay sau lễ cầu siêu, nói một cách rất đơn giản về công việc đó:

“Trên quan điểm của đạo Phật thì Từ bi là bình đẳng, Từ bi là để xoa dịu tất cả mọi nỗi đau, không phân biệt oán thù. Chuyện cầu siêu là chuyện bình thường, chứ không nên đem suy luận, biện chứng ra mà luận bàn.”

Xin kết thúc bài viết này bằng câu chuyện một chị bán hàng trong chợ Đông Ba. Khi đoàn cầu siêu cử người đến mua phẩm vật cho ngày lễ, chị đã biếu một nồi chè, cùng bỏ bữa chợ ngày hôm sau để cùng đoàn sang bờ bắc sông Bến Hải làm lễ. Chị nói rằng mùa xuân năm Mậu thân 1968 gia đình chị có nhiều người ra đi mãi mãi.

Những việc làm bình thường như nhà sư chùa Từ Đàm nhìn thấy, hay việc làm không suy luận tính toán của chị bán hàng chợ Đông Ba phải chăng là cái mà người Việt đang cần để làm lành vết cứa ở đôi bờ Bến Hải!”(hết trích)

Bạn có thể đọc đầy đủ bản tin xúc động trên ở tranghttp://www.rfa.org/vietnamese/.

Trong khi đó, nhà văn Lê Khả Sỹ gửi thư lên Quốc Hội, viết:

“Tôi là công dân Lê Khả Sỹ, 77 tuổi, hội viên hội Nhà văn Việt Nam, hội viên hội Nhà báo Việt Nam, hội viên hội Nhà văn Hà Nội, trú tại phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội. Anh em trong gia đình tôi chỉ có một thương binh là lính Cụ Hồ, không có ai đi lính cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa tử trận. Nhưng vì tình người theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xin đệ trình bức thư tâm huyết này lên Quốc hội, đề xuất một vấn đề “khó nói” để mong được Quốc hội quan tâm xem xét...

...Quá khứ khép lại, hận thù quên đi thì ta mới có bạn bè năm châu bốn biển như ngày nay; đối với quân nhân mất tích của Mỹ ta còn hợp tác tìm kiếm thì với tử sĩ thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhưng đều là người Việt, nên dành cho họ tấm lòng nghĩa cử, ít nhất như Ông Cha ta đã dạy, thành ca dao Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy là khác giống nhưng chung một giàn; Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng ! Tôi tin rằng, nếu ta làm được công việc nghĩa cử đó thì cộng đồng trong và ngoài nước sẽ chung tay góp sức bằng tấm lòng từ thiện. Tất nhiên, tình cảm dân tộc càng gắn bó, thêm được cơ hội thu phục nhân tâm, tiếng tốt sẽ muôn đời lưu lại!

Vấn đề thứ hai là đề nghị Quốc hội, Chính phủ: hàng năm không tổ chức kỷ niệm “ngày toàn thắng 30-4”. Bởi trong hoàn cảnh như thế diễn ra điều trái ngược đau lòng. Nhiều người gọi là “ngày vui của nước” vì mở hội hát hò cờ giong trống đánh, nhưng cũng nhiều người gọi đó là ngày buồn của nước bởi cảnh hội hè không thể lấn át cho quên đi cảm cảnh ngày đại tang cả nước! Người mẹ nào mất con chẳng đau, người vợ nào mất chồng chẳng tủi, ông bà nào cháu chết trận chưa tìm được hài cốt mà nguôi được nỗi buồn...”(hết trích)

Lá thư đọc đầy đủ ở đây: http://holam.vnweblogs.com/

Mặt khác, Thư của cụ Lê Trấn Gia gửi từ Hà Nội ngày 28 tháng 10, 2013 tới Ông Tổng bí thư và 175 ông bà ủy viên ban chấp hành TƯ Đảng CS Việt Nam, nói rằng:

“Chi bộ đảng chúng tôi bao gồm những người cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, cựu cán bộ viên chức, trong số chúng tôi, có người đã từng tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhiều người trong chúng tôi đã để lại trên chiến trường năm xưa một phần xương máu của mình. Trong chi bộ của chúng tôi cũng có không ít người từng được nhân dân gọi là “quan chức cao cấp”...

...Thưa các ông các bà lãnh đạo đảng và nhà nước, các ông các bà có hiểu rằng nếu các ông các bà tiếp tục có thái độ thờ ơ với dân với nước như những ngày vừa qua thì chính người dân Việt Nam, trong đó có cả các đảng viên cộng sản như chúng tôi sẽ vùng lên, sẽ không để cho các ông các bà làm trò hề tổ chức đại hội đảng thêm một lần nữa, sẽ không có đại hội lần thứ 12 nữa đâu! Người dân Việt Nam sẽ không cho phép các ông các bà tiếp tục tham ô của quá khứ và ăn cắp của tương lai...”(hết trích)

Toàn văn lá thư của cụ Lê Trấn Gia ở đây http://viet-studies.info/

Đất nước như dường chưa bao giờ buồn như thế này.

---------------

Lời TVA572:  Rất tiếc người Cọng Sản không có tâm và cũng không có nhân.  Nhân tâm là căn bản để đi đến những tốt đẹp trong cuộc sống.